Archive for Chính trị, xã hội

Chuyên gia phân tích kinh tế thế giới, em ở đâu?

// August 27th, 2010 // 2 Comments » // Chính trị, xã hội

Nhân chuyện $ tăng giá, và nhân hôm ngay nghe phân tích, nghe chuyên gia Bùi Kiến Thành nói chuyện, chợt ngẫm nghĩ. $ tăng giá thì sao, thì có lợi cho xuất khẩu và giúp giảm nhập khẩu ư? Không đơn giản như thế, chỉ với những nông thủy khoáng sản, thì mới có lợi, mà những thứ thô ấy thì giá cũng chả cao. Mấy tấn gạo mới mua được một con chip, một cái iphone? Còn với hàng may mặc, da giầy, xe máy vespa, thì hơn 80% giá trị hàng hóa là nguyên liệu nhập khẩu, chỉ gần 20% giá trị là do công nhân Việt Nam tạo ra. Vậy thì tỉ giá tăng, vẫn là bất lợi. Còn hạn chế nhập khẩu thì oh go on Hạn thế nào được, cắn răng mà nhập ấy chứ. $ tăng cũng có nghĩa là điện thoại, máy tính, iphone tăng giá, tức là tháng lương của mình sẽ mua được ít hàng hóa hơn bình thường. Buồn quá!

1. Tại sao lại cần 19.500vnd mới mua được 1$? Tuyết hâm bảo do ngân hàng hoặc chợ đen định giá thế, hehe. Thế tại sao ngân hàng không định giá 1000vnd mua được 1$? Thử tưởng tượng, bạn đi làm 1 tháng lương là 7tr vnd, và giá để mua một chiếc iphone4 chỉ là 999k vnd, thật là hoành tráng, tháng lương mua dc 7 cái iphone, đời đẹp đến thế là cùng laughing Nhưng rất tiếc, đó là mơ, bởi vì nếu ngân hàng định giá 1000vnd = 1$, thì dân đổ xô đi mua $, ngân hàng lấy đâu ra $ mà bán i dont know
2. Thế nguồn $ ở đâu ra? Tự in chăng? Chúng ta không tự in được $, tiếc quá. $ có được từ xuất khẩu hàng hóa, tôm cá, dầu thô, than và khoáng sản thô, kiểu như đem bán cả Tây Nguyên để lấy về $ đó mà straight face $ là từ các cô dâu Việt Nam ở Hàn Quốc (ít thôi), từ các ô sin Việt Nam ở Đài Loan, từ các công nhân ở Tây Á, từ những người lao động, con buôn sành sỏi ở Đông Âu… Mấy triệu kiều bào – “một phần không thể tách rời của VIệt Nam” – nhiều $ thế tách rời thế nào được whistling.
Thế tại sao chúng ta không đổi vnd cho Mỹ? Đơn giản là các bạn Mỹ deck thích vnd của chúng ta, nên deck đổi được, ta thích $ của Mỹ, nên Mỹ đổi $ cho ta là ta đổi liền. Khổ chưa, kiếp con ong cái kiến.
Vậy làm gì để có nhiều $??????
Buôn chứng khoán, địa ốc, bán lẻ hàng hóa… cơ bản là kiếm được nhiều (hoặc rất nhiều) tiền, nhưng những việc đó thì lại không sản xuất ra của cải vật chất, tức là không trực tiếp tạo ra thứ để bán cho bọn tư bản thối nát.
Có một ngành công nghiệp rất ngon để rút tiền trong túi bọn tây, đó là du lịch, VIệt Nam cảnh đẹp thì nhiều đừng hỏi, nhưng mà phải nói Việt Nam làm du lịch như lìn, nên tiềm năng to lớn mà mãi chỉ “vẻ đẹp tiềm ẩn”, thật là buồn bã lắm thay!!!

Đọc và nghĩ

// August 24th, 2010 // No Comments » // Chính trị, xã hội

Cũng không có gì để nói nhiều, đọc và nghĩ thôi happy đây là thứ tự xếp theo thời gian mình đọc ba bài viết này
những câu chuyện, những suy nghĩ của một người trẻ, giỏi, thành đạt, và đáng ngưỡng mộ

và đây là những gã nhà giàu mới nổi học làm sang của một nước nằm trong top nghèo nhất thế giới

Những điều ít biết về các triệu phú của cường quốc số 1 thế giới

Vì sao Việt Nam không/chưa thể thành rồng thành hổ như Hàn Quốc, Nhật Bản?

Người Việt Nam tự tin hay tự ti?

// April 15th, 2010 // 4 Comments » // Chính trị, xã hội, Sưu tầm

Trên bục giảng, PGS.TS Phạm Đình Nghiệm hỏi: “Có em nào đã từng ước mơ mình đoạt giải Nobel không?” 136 thành viên của lớp học vẫn ngồi yên bất động và câu trả lời là sự lặng im. Tự hỏi, tại sao lại như vậy, phải chăng vì trong đầu ai cũng thấp thoáng một ý nghĩ “người Việt Nam mà mơ giải Nobel làm gì….”

Giờ quân sự, có bạn đặt ra câu hỏi: “Nếu Mỹ xâm lược Việt Nam một lần nữa thì liệu Việt Nam có thắng không?”. Mọi người phần đông ai cũng thở dài kèm theo cái lắc đầu chấp nhận thua cuộc. Tự hỏi, tại sao khi xưa cha ông ta từng bao lần khiến cho kẻ địch phải khiếp vía vậy mà giờ đây chúng ta- thế hệ con cháu lẽ ra phải dũng cảm hơn nữa thì lại có ý nghĩ như vậy?….
(more…winking

Blog Osin bị 'tấn công'

// February 5th, 2010 // 1 Comment » // Chính trị, xã hội

Nhà báo Huy Đức, được nhiều người biết đến qua blogosin.org xác nhận với BBC blog và địa chỉ email của ông đang bị tấn công.

”Từ lúc 1700 (5/2) blog của tôi bị hack, kể cả email huyducnews@yahoo.com của tôi không còn vào được nữa vì password đã bị đánh cắp,” ông nói.

Một số fan của Blog Osin nhận được thông báo trên mạng, qua một đường dẫn chưa rõ xuất xứ, là blog ngừng hoạt động với lời giải thích:

”Vì lý do phải lo cho cuộc sống, cơm áo gạo tiền, tôi không còn hứng thú với việc viết lách. Thời gian gian qua tôi cũng không còn ý tưởng gì mới, mặt khác tôi và gia đình đang chuẩn bị đi Mỹ định cư. Nay tôi xin thông báo đóng cửa vĩnh viễn Blog Osin.”

Tuy nhiên ông Huy Đức nói với BBC chuyện đó hoàn toàn không có thật.

“Bản thân tôi cũng không vào được blog của tôi và cũng không làm sao vào được email của tôi nên không biết điều gì đã xảy ra”.

”Blog của tôi là một blog cá nhân, nó không có một sứ mệnh nào ngoài chuyện là nơi để tôi ghi chép và chuyển tải một vài suy nghĩ của tôi, cho nên tôi không ý định đóng nó.”

Ông Huy Đức nói ông muốn duy trì blog và việc nó bị ‘hack’ là ngoài ý muốn của ông.

”Tôi nghĩ rằng blog của tôi rất hữu ích, với cá nhân tôi thì nó có thể chia sẻ được nhiều điều.”

“Tôi không làm điều gì mà phải đóng cửa hay mở ra vì nó có ảnh hưởng gì đến ai đó,” ông Huy Đức nói.

Ông Huy Đức cũng đã thông báo trên mạng xã hội Facebook rằng ”địa chỉ email của tôi đã bị lấy mất password, nếu ai nhận được email từ huyducnews@yahoo.com thì đấy không phải là thư của tôi”.

Một số người đã nhận được thư cho là từ địa chỉ này của ông. Tuy nhiên các email đó đã bị phần mềm chống virút chặn lại ngay vì có kèm virút.

http://www.bbc.co.uk/vietnamese/vietnam/2010/02/100205_osinbloghacked.shtml

Tố chất Việt và giáo dục Việt đang ở đâu?

// November 15th, 2009 // No Comments » // Chính trị, xã hội

Càng tự hào về tố chất Việt, chúng ta càng phải đặt câu hỏi, tại sao đất nước chúng ta vẫn thiếu nhân tài, dân ta vẫn nghèo, đất nước vẫn còn lạc hậu? Sẽ là quá đơn giản, vô trách nhiệm và ngụy biện nữa, nếu chúng ta cứ tìm cách đổ tội cho chiến tranh

LTS: Dẫn thống kê của chính phủ Đức, tác giả Việt Nguyễn, người đang sống ở CHLB Đức cho biết, gần 60% học sinh Việt Nam ở Đức đạt trình độ “tinh hoa”, hơn hẳn hai nhóm theo sau là Đức và Nga (trên 40%).  Tác giả quả quyết, hiện tượng học sinh Việt ở Đức cũng chẳng khác gì hiện tượng tương tự ở Mỹ, ở Canada hay đâu đó có người Việt đặt chân tới. Ở đâu thì truyền thống hiếu học, cần cù của dân tộc ta cũng luôn được phát huy, từ thế hệ này qua thế hệ khác. Nhưng tại sao chúng ta vẫn thiếu nhân tài, dân ta vẫn nghèo, đất nước vẫn còn lạc hậu? Tuần Việt Nam giới thiệu bài viết 2 kỳ của ông như một tư liệu để mọi người cùng thảo luận.

Tố chất Việt Nam

Vừa qua, đài truyền hình ZDF của Đức có chương trình nói về vấn đề hội nhập của thanh niên có nguồn gốc nhập cư, một đề tài đang nóng lên sau khi liên minh trung tả CDU/CSU/FDP thắng cử tại cuộc bầu cử quốc hội cuối tháng 9 vừa qua. Điều làm tôi quan tâm đến là ZDF đã chứng minh trường hợp học sinh Việt Nam thành đạt tại Đức bằng biểu đồ so sánh tỷ lệ học sinh được vào trường Gymnasium (bên Anh gọi là Grammar shool, loại trường dành cho học sinh khá, giỏi có khả năng sau này vào đại học, bắt đầu từ lớp 5 đến lớp 12).

Học sinh các trường Gymnasium ở Đức còn được gọi là Elite-Schüler (học sinh tinh hoa). Theo biểu đồ này: tỷ lệ học sinh hết cấp 1 đuợc tuyển vào Gymnasium toàn quốc là 27%; tỷ lệ học sinh gốc Việt vào Gymnasium là 55%; tỷ lệ học sinh gốc Thổ Nhĩ Kỳ đạt trình độ đó là 11%.

Vì không tìm được biểu đồ này trên trang web của ZDF, nên tôi phải vào trang web báo Zeit (Thời đại) và tìm thấy bài viết tương tự về hiện tượng này (http://www.zeit.de/2009/05/B-Vietnamesen), trong đó có bảng thống kê chính thức, mới nhất của cục thống kê liên bang Đức.

Thống kê này cho thấy gần 60% học sinh Việt Nam ở Đức đạt trình độ “tinh hoa”, hơn hẳn hai nhóm theo sau là Đức và Nga (trên 40%). Hiện tượng này làm cho nhiều chính khách Đức hết sức ngạc nhiên và họ đã không ngần ngại dùng nó để đả phá lại ý kiến của nhiều cộng đồng nhập cư khác (đặc biệt là các cộng đồng Thổ Nhĩ Kỳ, Ả-Rập). Các cộng đồng này cho là con cái họ ít thành đạt vì chính sách nhập cư yếu kém của chính phủ Đức.

Thành thực mà nói, là dân nhập cư, tôi luôn dạy các con tôi phải biết ơn chính phủ và nhân dân Đức đã tạo điều kiện giúp chúng tôi hội nhập vào một xã hội văn minh, dân chủ, bình đẳng. Họ bình đẳng đến mức mà trên căn cước và mọi giấy tờ của tôi, nơi sinh chỉ được phép ghi là Binh Dinh (Bình Định), hoặc trên giấy tờ của vợ tôi thì chỉ ghi là Son Tay (Sơn Tây), có nghĩa là mọi quan chức, từ cảnh sát đến phòng thuế, khi tiếp xúc chúng tôi, không được phép hỏi và biết là chúng tôi thuộc gốc dân nào. Do vậy ý kiến của một số đại diện cộng đồng kia chỉ có thể là ngụy biện và tỷ lệ rất cao học sinh Việt Nam lọt vào các trường tinh hoa của Đức đã làm cho họ lúng túng.

Hiện tượng học sinh Việt ở Đức cũng chẳng khác gì hiện tượng tương tự ở Mỹ, ở Canada hay đâu đó có người Việt đặt chân tới. Ở đâu thì truyền thống hiếu học, cần cù của dân tộc ta cũng luôn được phát huy, từ thế hệ này qua thế hệ khác. Bên cạnh đó, một điều không thể chối cãi được là tố chất thông minh của người Việt. Bởi vì chỉ hiếu học, cần cù sẽ không có những tên tuổi được thế giới công nhận như Nguyễn An (kiến trúc sư xây thành cổ Bắc Kinh và trị thủy sông Hoàng) hay Trương Trọng Thi (phát minh ra máy tính cá nhân) và thời hiện đại thì như Phan Đình Diệu (Lý thuyết automat).

Khi đi thăm Sillicon Valley ở San Jose, tôi đã gặp rất nhiều trí thức trẻ gốc Việt nắm các vị trí cao tại các tập đoàn điện tử viễn thông của Mỹ. Tất cả các cháu đều là thế hệ 2, thế hệ 3 của dòng người Việt tỵ nạn, sang đây từ những năm 70-80 thế kỷ trước. Quá nửa các cháu mà tôi gặp là con nhà nghèo, cha mẹ từng chỉ làm những công việc chân tay vất vả khi mới sang đây, luơng mỗi giờ vài USD, nhưng luôn động viên con cái học hành.

Philipp Roesler, bộ trưởng Y tế Đức. Ảnh: Reuters.

Tất cả các cháu, dù xuất thân từ thành phần tướng tá chế độ cũ hay là con thợ may, con dân đánh cá, đều có cái nhìn rất tha thiết với tổ quốc của cha mẹ mình. Tuy đã là công dân Mỹ, nhưng khi gặp tôi, các cháu đều rất lễ phép, cố vượt khó để nói tiếng Việt và tỏ ra tự hào về nguồn gốc của mình, khiến tôi cũng tự hào lây.

Hiện tượng ông Philipp Roesler, một trí thức gốc Việt,  từ Bộ truởng kinh tế bang Niedersachsen đuợc đề bạt lên làm Bộ trưởng Bộ Y tế chính phủ liên bang Đức ở  tuổi 36 lại càng làm tăng vọt sự chú ý của dư luận Đức về cộng đồng nguời Việt và làm cho cộng đồng ta tại Đức rất tự hào. Tuy bản thân ông Roesler, sinh ra ở Khánh Hòa năm 1973, đuợc gia đình bố mẹ nuôi mang về Đức từ lúc 9 tháng tuổi, không hề chịu ảnh hưởng gì từ văn hóa Việt, nhưng trong các dịp tiếp xúc với cộng đồng, ông không bao giờ dấu giếm sự gắn bó huyết thống này.

Việt Nam có thể nghèo đuợc không?

Càng tự hào về nguồn gốc, về tố chất Việt, chúng ta càng phải đặt câu hỏi, tại sao đất nước chúng ta vẫn thiếu nhân tài, dân ta vẫn nghèo, đất nước vẫn còn lạc hậu? Sẽ là quá đơn giản, vô trách nhiệm và ngụy biện nữa, nếu chúng ta cứ tìm cách đổ tội cho chiến tranh. Quê tôi ở Bình Định, nơi mà sư đoàn Bạch Hổ của Hàn Quốc đã đóng quân trong chiến tranh. Nhiều nguời lính Hàn khi đó sang Việt Nam đã chỉ mơ ước nuớc họ giầu có như Việt Nam ta vào những năm 60. Chỉ 30 năm sau cuộc chiến tranh Triều Tiên, năm 1982 Hàn Quốc đã trở thành một quốc gia công nghiệp với tổng thu nhập đầu người trên 11.000 USD (con số này hiện nay là 28.000 USD, trong khi năm 1965 nuớc bạn còn nghèo hơn ta).

Hãy nhìn sang dân tộc Do Thái. Họ xây dựng lại đất nước từ con số không, sau hàng ngàn năm mất nuớc, mất cả tiếng nói, mất cả chữ viết, bị tiêu diệt, bị đồng hóa gần như tiệt chủng. Năm 1948 một triệu người Do Thái sống sót từ các trại tập trung khắp châu Âu quay về xây dựng lại đất tổ Israel, giữa vòng vây trùng điệp của một trăm triệu nguời Ả Rập.

Vậy mà sau hơn 30 năm, nhà nuớc Israel đã trở thành một quốc gia kỹ nghệ cao, có bộ máy quân sự hùng mạnh nhất tại Trung Đông và có thể nói, ngày nay nguời Do Thái đã chuyển từ số phận kẻ bị đe dọa tuyệt chủng thành kẻ nắm sinh mệnh của dân tộc khác. Ở đây tôi không muốn bàn đến mặt trái “vô trách nhiệm” của nhà nuớc Israel trong vấn đề hòa bình với dân tộc láng giềng Palestine, mà chỉ muốn nhấn mạnh đến ý chí tự cường và sự thành công của một dân tộc bị bao vây đến mức đó. Hoàn cảnh quốc tế đối với nuớc ta suốt mấy chục năm qua thuận lợi hơn rất nhiều, đó là chưa kể các thuận lợi về nội lực.

Chắc chắn có nhiều bạn đọc không thích cái điệp khúc “đất nước ta rừng vàng biển bạc”. Nhưng tôi đã đi nhiều nước và phải công nhận một điều rằng Việt Nam quả là một đất nuớc giàu có tài nguyên. Trong khi ở mọi nơi trên thế giới, nhân loại đang lo lắng về thiếu năng lượng, bất kể tạo ra từ khoáng sản hay từ nuớc, từ gió, từ nắng, thì nuớc ta thừa thãi các nguồn này.

Nước Đức trung bình có 1000 giờ nắng trong năm, chính phủ phải bù lỗ để dân chúng làm pin mặt trời trên mái nhà để bán lại cho mạng quốc gia. Ngược lại nước ta có hơn 2200 giờ nắng trong năm với cường độ bức xạ mặt trời cao hơn nhiều thì lại không làm đuợc việc đó. Trong khi hơn 2/3 nhân loại đang lo sợ về khan hiếm lương thực, về nguồn nuớc, về dự trữ dầu mỏ thì Việt Nam ta có đầy đủ mọi thứ.

Ảnh: VnEpress.net

Các nước công nghiệp hóa đang lo ngại về nguồn nhân lực trong lúc chúng ta lại có thừa. Như vậy nếu đất nuớc chúng ta có thiếu thốn và nghèo đói, chẳng qua tại chúng ta chưa biết quản lý và khai thác.

Một đạo diễn điện ảnh người Đức, bạn tôi, đã từng lăn lộn bao năm trong chiến tranh để giúp ta, khi sang thăm Việt Nam có nói với tôi: “Đất nuớc cậu như vậy, làm cho nó nghèo đi còn khó hơn là giữ cho nó giầu có!”. Câu nói đó tuy đầy vẻ hài huớc của một nghệ sỹ, nhưng rất đáng để chúng ta suy nghĩ.

Tất cả các cường quốc trỗi dậy sau chiến tranh như Đức, Nhật, Israel, Hàn Quốc đều không thể có những điều kiện thuận lợi mà trời phú cho dân tộc ta. Các nuớc Đức và Nhật hầu như không có tài nguyên gì đáng kể, Israel thì nằm lọt trong một vùng hoang mạc cằn cỗi. Hàn Quốc và Israel luôn ở trong tình trạng nửa chiến tranh và phải chi phí cho một ngân sách quốc phòng gấp nhiều lần nuớc ta. Thành công của các dân tộc này chính là  nhờ yếu tố con nguời, và để phát huy được yếu tố này, họ đã coi con người là mục tiêu của công cuộc xây dựng đất nuớc.

(Còn nữa)

BÈ LŨ… LỊCH SỬ

// November 12th, 2009 // No Comments » // Chính trị, xã hội

Hiêu Minh

Bão số 10 đã gây bao đau xót, cơn bão số 11 lại phá hoại nặng nề hơn. Người đi xa chỉ biết thờ dài. Thôi thì bàn chuyện mưa bão để chia sẻ và nhân thể nói về “bè lũ” mang tên “lịch sử”.

Mấy tuần nay báo chí bàn nhiều về chuyện các nhà máy thủy điện miền Trung xả lũ đã gây ra lũ lụt đúng vào lúc mưa bão khủng khiếp nhất, gây nhiều thiệt hại về người và của.

Theo ông PTT Hoàng Trung Hải “Khi nước từ thượng nguồn về thì hồ thủy điện tích nước để chống lũ. Nhưng khi quá khả năng thì phải xả nước, nếu không sẽ gây vỡ đập, nguy hiểm hơn nhiều”. Ông không sai một “tẹo” nào.

Ông giải thích, dù các nhà máy thủy điện xả lũ đúng lúc lũ lên cao, nhưng theo đúng qui trình, nên không “tham gia” vào thiên tai. Mấy cái thủy điện kia vô can.

Trách nhiệm của dân và khí hậu

Được nhà báo hỏi ”Từ những thiệt hại vừa qua, ngoài nguyên nhân khách quan, chúng ta rút ra được bài học gì, thưa Phó Thủ tướng?”, PTT Hoàng Trung Hải đã nói rõ là trách nhiệm này thuộc về…nhân dân và khí hậu. Xin trích nguyên văn.

  • Bài học thứ nhất là nhận thức của người dân. Việt Nam là 1 trong 5 quốc gia bị ảnh hưởng nặng nhất của biến đổi khí hậu, nước biển dâng, lũ lụt càng trầm trọng hơn. Nhận thức của người dân là phải luôn cảnh giác, bão lũ không còn theo quy luật mà luôn luôn có bất thường.
    Thứ hai, dự báo của chúng ta không thể chính xác 100%, do thiếu phương tiện công cụ dự báo, biến đổi khí hậu khó lường và mạng lưới trạm quan trắc không đầy đủ.
    Thứ ba, là biến đổi khí hậu làm cực đoan hóa các hiện tượng thời tiết. Trước đây mưa sau bão người ta gọi là mưa rửa bùn, mưa rửa đền, tức là mưa nhỏ, nhưng bây giờ mưa sau bão đều gây chết người. Mưa sau và trước bão đều vô cùng lớn, tạo nên các số liệu lịch sử. (Sao ổng thích chữ “lịch sử” thế )
  • Tịnh không có câu nào liên quan đến chức sắc, dù có nhắc qua loa phần cuối rằng, chính phủ và các nhà khoa học sẽ xây dựng kịch bản để đối phó.

    Câu hỏi ngược ở đây, trước khi xây dựng các nhà máy thủy điện, các vị ra quyết định có nhận thức gì về biến đổi khí hậu và lịch sử mưa bão của nước ta? Hay các vị làm theo kiểu duy ý chí, chống lại trời đất? Khi chuyện xảy ra tệ hại thì đổ cho lũ lịch sử và bắt dân phải có ý thức vì “trên” có quyền xả lũ bất kỳ lúc nào.

    Đổ thừa cho lịch sử

    Khi được hỏi về nguyên nhân nào dẫn đến thiệt hại nặng nề của các trận bão số 10 và 11 vừa qua, ông PTT cho biết “Trong các trận lũ vừa qua, tại sao hồ thủy điện hứng lũ rồi mà vẫn xả ầm ầm, là do toàn lũ lịch sử…”.

    Ái chà chà, cụm từ “lịch sử” báo hại, nghe quen quen, lần này có hẳn một “lũ”(bọn) lịch sử. “Lũ” này hay bị người ta đổ thừa.

    Một vị Bộ trưởng khi mới nhậm chức đã tuyên bố hùng hồn rằng, bệnh nhân chia giường trong bệnh viện là không thể chấp nhận được. Trong vòng hai năm phải giải quyết hết nạn “cãi nhau trên giường” này. Người ta sắp hết nhiệm kỳ, lời hứa kia “mất hút con mẹ hàng lươn”. Thì ra, vấn đề này do “lịch sử” để lại, không thể một sớm một chiều.

    Một bác bên Giáo dục cũng có nhiều lời hứa về cải cách giáo dục, hô hào chống bệnh thành tích. Mấy năm trôi qua, mọi thứ vẫn đâu vào đấy. “Lịch sử” ngành Giáo dục này là thế.

    Thành phố Hà nội có mấy dự án biến công viên thành khách sạn, đường phố thành trung tâm thương mại, thủ đô manh mún, kẹt xe, ô nhiễm toàn do…nhiệm kỳ trước để lại. Đương nhiên do…lịch sử rồi.

    Rất nhiều chuyện không thể cải tiến được, không làm nổi, do quan trí có hạn hay vì nể nang, chính sách chồng chéo, nhưng người ta cứ đổ vấy lung tung. Không ai nhận mình có lỗi.

    Hôm nay nghe chuyện lũ lụt trên, người ta nhận ra, hình như nước mình có hẳn một “bọn” mang tên “lịch sử”, đang phá hoại và ngáng chân phát triển.

    Chuyện vui kể rằng, cách đây mấy chục năm, chiến tranh biên giới nổ ra dù hòa bình mới được vài năm. Lời kêu gọi được phát đi hùng hồn “Lịch sử lại giao phó sứ mệnh cho dân tộc một lần nữa”. Có người trèo lên loa phường và hét, lôi “thằng lịch sử” ra, đánh cho một trận. Tại sao nó lại giao toàn việc khó cho dân mình.

    Trong vụ bão lụt miền Trung gây bao tai họa thì dân nghèo thấp cổ bé họng không “đánh” được ai. Người ta chỉ biết lầm bầm về “bè lũ…lịch sử” vô hình.

    HM.

    Quốc Khánh Trung Quốc

    // October 1st, 2009 // No Comments » // Chính trị, xã hội, Sưu tầm

    Hôm nay, trong cái ngày mà Bắc Kinh gọi là quốc khánh, chắc chắn chính quyền Trung Quốc chỉ nói về sự trỗi dậy suốt hơn hai thập niên qua và những đích đến phỉnh nịnh cơn thèm khát của nhiều người dân mộng bá quyền Đại Hán. Mao Chủ Tịch vẫn cười tủm tỉm trước cửa Thiên An Môn. Sáu mươi năm trước Mao đã thắng trong một cuộc chiến “da thịt tàn nhau”, đuổi Tưởng Giới Thạch ra Đài Loan. Người dân Trung Quốc được dạy đấy là công lao. Nhưng, rồi nhiều người trong số họ cay đắng nhận ra đó là ngày Mao bắt đầu biến Đại Lục thành địa ngục. Sau đây là những thông tin lấy từ cuốn Mao Trạch Đông Ngàn Năm Công Tội, được viết bởi một nhà nghiên cứu và giảng dạy tại Học viện quân sự cấp cao Trung Quốc, đại tá Tân Tử Lăng.

    Đại tá Tân Tử Lăng viết: “Mọi sai lầm lớn của Mao như giết hại công thần, gây bè phái trong đảng, bám chặt lấy chế độ lãnh đạo suốt đời và gia đình trị, dung túng phe đảng Giang Thanh, đều thuộc thuật cầm quyền của vua chúa”. Nhưng, cho dù lịch sử Trung Hoa có không ít hôn quân, có lẽ không một thiết chế nào trước đó cho phép một con người có thể táng tận như Mao tồn tại. Tháng 8-1958 khi cả nước mới chỉ sản xuất được 4,5 triệu tấn thép, Mao ra lệnh năm ấy phải nâng sản lượng thép lên 11 triệu tấn. Mao nói: “Phải chuyên chế, phải kết hợp giữa Karl Marx và Tần Thuỷ Hoàng”. Có lẽ không có nhà lãnh đạo quốc gia nào như Mao, ra lệnh “gom phế liệu và tháo dỡ cả đường sắt để đúc thép nhằm hoàn thành chỉ tiêu tăng trưởng”.

    Cho dù các con số sắt thép làm ra chỉ là những báo cáo dối trá, việc huy động những người khoẻ mạnh đi làm “gang thép” đã khiến cho thóc lúa hư hỏng ngoài đồng không có người thu hoạch. Ở huyện Tỉnh Nghiên, Tứ Xuyên, năm 1959, vào lúc đói kém nhất, bình quân mỗi ngày một người chỉ được phân phối 100 gam lương thực; cứ 8 người dân, có một người chết đói. Sau gang thép, Mao phát động cao trào “đại tiến vọt” lần hai. Ngày 3-9-1958, Mao tuyên bố: “Sản lượng lương thực có thể tăng lên 370 triệu tấn, gấp 2 lần năm ngoái. Nếu năm 1959 lại tăng gấp 2 lần thì sản lượng lương thực sẽ là 750 triệu tấn”. Khi các địa phương báo lên sản lượng lương thực không những tăng mà còn xấu hơn, Mao sợ bẽ mặt bèn cho rằng ‘lương thực bị giấu bớt” rồi hăm: “Phải tiến hành một đợt giáo dục kiên quyết”. Để quán triệt tinh thần kiên quyết của Mao, Khu uỷ Tín Dương, tỉnh Hà Nam tập họp 6.000 người để đấu tố 60 người “giấu bớt lương thực” không nộp cho nhà nước. Nhưng, chính những người đi dự hôm ấy cũng đang không có lương ăn, một người chết đói tại chỗ, 19 người chết trên đường về nhà. Trên tinh thần ấy, tỉnh Hà Nam dù thu hoạch 9,75 triệu tấn vẫn báo cáo lên 22,5 triệu tấn. Năm 1959, trên toàn quốc, theo báo cáo: 270 triệu tấn lương thực, thực tế chỉ có 170 triệu tấn; năm 1960 giảm còn 143 triệu tấn.

    Theo đại tá Tân Tử Lăng, mùa xuân 1960 nạn đói tràn lan, có làng 80 ngày người dân không có một hạt gạo vào bụng, vậy mà Bí thư Khu uỷ Tín Dương vẫn lên giọng: “Không phải thiếu lương thực, 90% là vấn đề tư tưởng”. Trước đó, khi Bí thư tỉnh uỷ An Huy Trương Khải Phong cho giải tán 4.000 nhà ăn tập thể vì không còn lương thực, Mao phê vào báo cáo: “Trương Khải Phong đứng trên lập trường giai cấp tư sản, mưu toan phá hoại nền chuyên chính vô sản”. Khu uỷ Tín Dương sau đó lại càng “chuyên chính” hơn, phong toả,  không cho dân chúng ra khỏi làng. Theo tài liệu do Bộ Chính trị Trung Quốc “giải mật” sau này, những năm ấy Tín Dương có hơn một triệu người chết đói. Trịnh Đại Quân, một cán bộ Ban Công tác nông thôn huyện Sùng Khánh kể rằng, một đội sản xuất có 82 hộ, chỉ trong một năm, từ tháng 12-1959 đến 11-1960 có 48 bé gái 7 tuổi trở xuống bị người lớn làm thịt, chiếm 90% số bé gái cùng độ tuổi. Trịnh Đại Quân kể, người ta phát hiện ra vụ ăn thịt trẻ em đầu tiên do toán điều tra nhìn thấy “một làn khói mỏng toả ra từ mái nhà bần nông Mạc Nhị Oa”. Họ bao vây, vu hồi, rồi đồng loạt nhảy vào: “Nhà Nhị Oa 8 nhân khẩu, đã chết đói 2, nhưng chỉ còn lại 5. Bé gái Thụ Tài đang bị luộc trong nồi. Trong lúc tổ tuần tra tìm dây trói can phạm, Nhị Oa và mấy đứa con lao vào cướp thịt Thụ Tài nhai ngấu nghiến”. Nạn ăn thịt trẻ con sau đó còn lan ra: “Kẻ nhẫn tâm thì ăn thịt con ngay tại nhà mình. Kẻ mềm yếu hơn thì gạt nước mắt đổi con với hàng xóm”… Nạn đói có thể không tới mức như vậy nếu như tháng 6-1959 mặc dù tình hình lương thực giảm, Mao vẫn quyết định xuất khẩu 4,19 triệu tấn để lấy vàng và đô la. Theo số liệu chính thức do Bộ Chính trị Trung Quốc giải mật tháng 9-2005, sau 4 năm Mao phát động “cao trào xã hội chủ nghĩa ở nông thôn” có tới 37,55 triệu người chết đói.

    Nhưng, “đói” chưa phải là bi kịch lớn nhất của người Trung Quốc. Ngày 30-4-1957, Mao gặp đại diện trí thức, động viên góp ý cho Đảng, giúp sửa chữa sai lầm. Mục tiêu của Mao là dùng đại hội này để xác lập vị trí lãnh đạo tư tưởng của mình trong giới trí thức, nhưng tình hình diễn biến không như Mao trông đợi. La Long Cơ, Bộ trưởng Lâm Nghiệp, lãnh tụ của giới trí thức từ Âu- Mỹ trở về phát biểu rằng: “Tiểu trí thức chủ nghĩa Marx- Lenin lãnh đạo đại trí thức của giai cấp tiểu tư sản là người mù chỉ đường cho người sáng mắt”. Mao nổi giận. Một mặt vẫn cho thảo luận để “dụ rắn ra khỏi hang”. Một mặt, dựng lên “Vụ án chống đảng”. Theo thống kê của Trung Quốc, có 552.877 trí thức là nạn nhân của “vụ án” do Mao lập ra này.

    Nhưng, Cách mạng văn hoá mới là trung tâm của địa ngục. Cuộc Cách mạng do những thanh niên bị kích động được gọi là Hồng vệ binh, chỉ riêng hạ tuần tháng 8-1966, khi mới bắt đầu, “nội thành Bắc Kinh đã có hàng ngàn người bị đập chết tươi. Nhiều người khi ấy được chứng kiến những cuộc tắm máu, những kiểu giết người man rợ thời trung cổ”. Cả nước có 10 triệu gia đình bị lục soát. Sinh viên sư phạm Bắc Kinh kéo về Sơn Đông “san bằng” mộ Khổng Tử. Lăng mộ Hạng Vũ, Gia Cát Lượng, Ngô Thừa Ân… cũng bị đập phá. Ngay đến một người bạn chiến đấu của Mao, đang là Chủ tịch Nước Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa, ông Lưu Thiếu Kỳ, cũng bị Mao bỏ mặc cho Hồng vệ binh tàn sát. Năm ấy ông Lưu đã 69 tuổi, tay bị thương khi cùng Mao chiến tranh, tận mắt chứng kiến vợ là Vương Quang Mỹ bị bắt giam; ba người con đang tuổi đi học bị đưa vào trường thẩm tra; bé út 6 tuổi phải theo bảo mẫu ra khỏi Trung Nam Hải. Ông Lưu, bị giam ngay trong phòng Chủ tịch Nước, với 7 cái răng còn lại, cơm ăn thì thường là thiu, ông bị tiêu chảy, lại không thể thay quần áo, trong phòng hôi nồng. Đã thế, ngày nào cũng bị đấu tố, hạ nhục rồi bị lưu đày cho đến khi chết đau đớn hơn cả một kẻ ăn mày. Cuộc Cách mạng văn hoá kéo dài 10 năm đã lấy thêm sinh mạng của gần 20 triệu người dân Trung Quốc.

    Đại tá Tân Tử Lăng giải thích: Thoạt đầu Mao làm “đại tiến vọt” để đưa Trung Quốc vượt qua các nước phương Tây hòng làm ‘lãnh tụ thế giới”. Khi thất bại, dẫn tới cái chết của hàng chục triệu dân thì Mao lại làm tất cả mọi việc để hòng che đậy những sai lầm ấy. Đại tá cho rằng: “Không có sai lầm của đại tiến vọt thì không có đại cách mạng văn hoá để bức hại Lưu Thiếu Kỳ, gạt bỏ Lâm Bưu, phế truất Đặng Tiểu Bình… nhằm đưa Giang Thanh lên nắm quyền”. Theo Đại tá: “ Mao truyền ngôi cho Giang Thanh là bất đắc dĩ. Nhưng, Mao cần có hai thế hệ: Giang Thanh và Mao Viễn Tân, đủ để viết lại lịch sử, chối phắt trách nhiệm làm 37,55 triệu người chết đói”.

    Cuốn sách mô tả rất chi tiết những mưu mô của Mao. Nhưng, đại tá Tân Tử Lăng cho rằng nếu như người dân có tiếng nói, các thiết chế đảng và nhà nước có tiếng nói, những người có lương tri nói lên sự thật với Mao không bị quy kết là “chống Đảng” thì Mao không thể gây ra những tội ác đau thương cho nhân dân, cho đồng chí của mình như thế. Thật cay đắng khi theo đại tá Tân tử Lăng, chỉ khi “vị cứu tinh” chết đi nhân dân Trung Quốc mới có đường để sống. Những cải cách mà Đảng Cộng sản Trung Quốc và Đặng Tiểu Bình khởi xướng là thực hiện lại một phần những gì mà người dân Trung Hoa đã có từ trước ngày 1-10-1949. Đại tá Tân Tử Lăng lý giải: “Chỉ cần trả lại quyền lợi và tự do cho nhân dân, tự họ sẽ lựa chọn con đường phát triển và sáng tạo tương lai xán lạn”.

    Cuốn sách được xuất bản tháng 7-2007 và tái bản tháng 6-2008 tại Hong Kong, nhưng đã gây chú ý đặc biệt và gây tranh cãi trong người dân Đại lục. Có lẽ vẫn có những người dân Trung Quốc ngưỡng mộ Mao; có lẽ vì hơn 60 năm qua họ đã được dạy Mao là người vĩ đại; có lẽ họ không muốn phủ nhận chính họ vì một thời họ đã tôn sùng Mao, đã trở thành Hồng vệ binh gây nhiều tội ác. Nhưng, có lẽ, cũng có nhiều người Trung Quốc tự hỏi, nếu như không có ngày 1-10-1949, Trung Quốc có phải trải qua 3 thập kỷ địa ngục như vậy không. Lịch sử không có chữ “nếu”, cho dù có ai đó đang nghiên cứu về con đường mà Việt Nam lẽ ra đã đi nếu như Mao không nắm quyền kể từ năm 1949.

    Nghe nói Thông Tấn Xã Việt Nam mới cho dịch và xuất bản cho các cơ quan, đơn vị cuốn sách của Đại tá Tân Tử Lăng. Mục tiêu của Thông tấn Xã Việt Nam thường không phải kinh doanh. Hy vọng là đã có nhiều người Việt Nam đọc được.

    Huy Đức điểm sách

    Harvard đánh giá khủng hoảng giáo dục đại học VN

    // September 10th, 2009 // No Comments » // Chính trị, xã hội

    Tuần Việt Nam xin giới thiệu nội dung cơ bản của bản báo cáo trong khuôn khổ Asia Programs của Trường lãnh đạo Kennedy thuộc ĐH Harvard, do hai tác giả Thomas J. Vallely và Ben Wilkinson thực hiện với tựa đề: Giáo dục đại học – cao đẳng Việt Nam: Khủng hoảng và đối phó.
    >> Diễn đàn Cải cách Giáo dục 2009

    Chúng tôi bắt đầu bằng việc phân tích tính nghiêm trọng của cuộc khủng hoảng và những nguyên nhân căn bản của nó.

    Sau đó, chúng tôi xem xét các nhân tố chủ yếu – Chính phủ Việt Nam, người dân Việt Nam và cộng động quốc tế – đang phản ứng như thế nào trước tình hình này.

    Chúng tôi đi đến kết luận bằng việc nhấn mạnh tầm quan trọng của việc đổi mới về mặt thể chế như một thành tố cần thiết của một quá trình cải cách hiệu quả.

    (Các tác giả báo cáo)

    Quy mô của cuộc khủng hoảng

    Rất khó để phóng đại tính chất nghiêm trọng của những thách thức đang đặt ra với Việt Nam trong giáo dục đại học – cao đẳng (ĐH – CĐ). Chúng tôi tin rằng nếu không có một sự cải cách khẩn cấp và căn bản đối với hệ thống giáo dục ĐH – CĐ, Việt Nam sẽ không đạt được đúng mức tiềm năng to lớn của mình [1].

    Sự phát triển kinh tế ở Đông Á và Đông Nam Á đã cho thấy quan hệ mật thiết giữa phát triển và giáo dục ĐH – CĐ. Cho dù trong các nước và vùng lãnh thổ thịnh vượng nhất ở khu vực – Hàn Quốc, Đài Loan, Singapore, và gần đây là Trung Quốc – mỗi nơi đều đi theo những con đường phát triển độc đáo, nhưng điểm chung trong thành công của họ là sự theo đuổi nhất quán một nền khoa học và giáo dục ĐH – CĐ chất lượng cao.

    Một số nước tương đối kém thành công hơn ở Đông Nam Á – Thái Lan, Philippines và Indonesia – lại là một câu chuyện mang tính cảnh báo. Những nước này nói chung đã không đạt được chất lượng cao trong khoa học và giáo dục ĐH – CĐ và họ đã thất bại trong việc phát triển những nền kinh tế tiến bộ. Đó không phải là một điềm tốt cho tương lai nếu các trường đại học Việt Nam tụt hậu xa so với chính những láng giềng Đông Nam Á không mấy nổi bật của họ.

    Việt Nam không có một trường đại học nào có chất lượng được công nhận. Không có một cơ sở nào của Việt Nam có tên trong bất cứ danh sách được sử dụng rộng rãi nào (nếu nhận định trên còn chưa rõ ràng) tập hợp các trường đại học hàng đầu ở châu Á. Về phương diện này thì Việt Nam khác xa với cả những nước Đông Nam Á khác, hầu hết các nước này đều có thể kiêu hãnh về ít nhất một vài cơ sở có đẳng cấp. Các trường đại học Việt Nam phần lớn bị cô lập khỏi các dòng chảy kiến thức quốc tế [2], như những gì thể hiện qua số liệu nghèo nàn tại thống kê dưới đây:

    Bài viết được xuất bản trên các tạp chí khoa học năm 2007

    Cơ sở

    Quốc gia

    Số bài viết

    Đại học tổng hợp Quốc gia Seoul

    Hàn Quốc

    5.060

    Đại học tổng hợp Quốc gia Singapore

    Singapore

    3.598

    Đại học tổng hợp Bắc Kinh

    Trung Quốc

    3.219

    Đại học tổng hợp Phúc Đan

    Trung Quốc

    2.343

    Đại học tổng hợp Mahidol

    Thái Lan

    950

    Đại học tổng hợp Chulalongkorn

    Thái Lan

    822

    Đại học tổng hợp Malaya

    Malaysia

    504

    Đại học tổng hợp Philippines

    Philippines

    220

    Đại học Quốc gia Việt Nam (Hà Nội và thành phố HCM)

    Việt Nam

    52

    Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam

    Việt Nam

    44

    Nguồn: Science Citation Index Expanded, Thomson Reuters

    Các trường đại học Việt Nam chưa sản sinh được lực lượng lao động có trình độ như đòi hỏi của nền kinh tế và xã hội Việt Nam. Các cuộc điều tra do các hiệp hội thuộc Chính phủ thực hiện cho thấy khoảng 50% sinh viên tốt nghiệp đại học ở Việt Nam không tìm được việc làm đúng chuyên môn, một bằng chứng cho thấy sự thiếu liên kết nghiêm trọng giữa giảng dạy và nhu cầu của thị trường. Với hơn 25% chương trình học ở đại học là dành cho các môn bắt buộc quá nặng về tuyên truyền chính trị, không phải băn khoăn nhiều về việc sinh viên Việt Nam được trang bị rất kém cho cả việc đi làm lẫn việc đi du học.

    Có thể lấy việc Intel tìm cách thuê tuyển kỹ sư cho cơ sở sản xuất của họ ở thành phố HCM làm ví dụ minh hoạ. Khi công ty này thực hiện một cuộc kiểm tra đánh giá theo tiêu chuẩn với 2.000 sinh viên CNTT Việt Nam, chỉ có 90 ứng cử viên, nghĩa là 5%, vượt qua cuộc kiểm tra, và trong nhóm này, chỉ có 40 người có đủ trình độ tiếng Anh đạt yêu cầu tuyển dụng. Intel xác nhận rằng đây là kết quả tệ nhất mà họ từng gặp ở những nước mà họ đầu tư.

    Các nhà đầu tư Việt Nam và quốc tế cũng cho rằng việc thiếu các công nhân và quản lý có kỹ năng là cản trở lớn nhất đối với việc mở rộng sản xuất. Chất lượng nghèo nàn của giáo dục đại học còn có một ngụ ý khác: đối lập với những người cùng thế hệ ở Ấn Độ và Trung Quốc, người Việt Nam thường không thể cạnh tranh được để lọt qua những khe cửa hẹp của các chương trình đại học cao cấp ở Mỹ và châu Âu.

    Chỉ số sáng tạo

    Quốc gia

    Số  bằng sáng chế được cấp năm 2006

    Hàn Quốc

    102.633

    Trung Quốc

    26.292

    Singapore

    995

    Thailand

    158

    Malaysia

    147

    Philippines

    76

    Việt Nam

    0

    Nguồn: World Intellectual Property Organization, 2008 Statistical Review

    Nguyên nhân khủng hoảng

    Di sản lịch sử

    Những vấn đề mà Việt Nam đang đối mặt trong giáo dục ĐH – CĐ hiện nay là một phần hậu quả của lịch sử hiện đại của đất nước này. Chế độ thực dân Pháp cai trị Việt Nam từ nửa sau thế kỷ 19 đến tận năm 1945 đầu tư rất ít ỏi vào giáo dục cấp ba, thậm chí là so với các cường quốc thực dân khác. Hậu quả là, Việt Nam đã bỏ lỡ làn sóng cải cách thể chế trong giáo dục ĐH – CĐ tràn qua phần lớn khu vực châu Á đầu thế kỷ 20. Trong giai đoạn này, rất nhiều cơ sở giáo dục ĐH – CĐ hàng đầu của khu vực đã được thành lập. Hậu quả là sau khi giành độc lập, Việt Nam chỉ có một nền tảng thể chế rất yếu để từ đó xây dựng lên. (Điều này trái ngược hẳn với Trung Quốc, hầu hết các trường đại học đầu bảng của nước này hiện nay đều được thành lập vững chắc từ trước cách mạng).

    Quản lý

    Nguyên nhân trực tiếp nhất của cuộc khủng hoảng ngày nay là sự thất bại ngiêm trọng trong quản lý. Các trường đại học có chất lượng, từ Boston đến Bắc Kinh, đều có những nhân tố chủ chốt nhất định mà Việt Nam hiện đang rất thiếu [3].

    Tự trị: Các cơ sở học thuật ở Việt Nam vẫn chịu một hệ thống quản lý tập trung hoá cao độ. Chính quyền trung ương quyết định số lượng sinh viên các trường được phép tuyển, và (trong trường hợp các trường đại học công lập) lương trả cho các giảng viên đại học. Ngay cả những quyết định mang tính thiết yếu đối với việc vận hành một trường đại học như việc lập khoa cũng do hệ thống quản lý tập trung hoá này kiểm soát. Hệ thống này hoàn toàn không khuyến khích các trường và học viện cạnh tranh hay đổi mới. Thù lao được trả căn cứ vào thâm niên, và lương cứng thấp đến nỗi các giảng viên đại học phải “đi đêm” rất nhiều để có thể đảm bảo cuộc sống. Khác hẳn với Trung Quốc, Việt Nam vẫn chưa thực sự khuyến khích người Việt Nam học ở nước ngoài.

    Lựa chọn dựa trên thành tích: Tham nhũng lan tràn và việc mua bán bằng cấp, học hàm, học vị là rất phổ biến [4]. Các hệ thống nhân sự đại học đều mù mờ và việc bổ nhiệm thường dựa trên những tiêu chuẩn phi học thuật như thâm niên, lý lịch gia đình và chính trị, và các mối quan hệ cá nhân. Các khoa và các cấp hành chính cao hơn có xu hướng do các cá nhân từng được đào tạo ở Liên Xô hay Đông Âu nắm giữ, những người này không nói được tiếng Anh và, trong không ít trường hợp không mặn mà với các đồng nghiệp trẻ được đào tạo ở phương Tây.

    Các mối liên hệ và tiêu chuẩn quốc tế: Sản sinh kiến thức là việc của một doanh nghiệp không biên giới, nhưng các cơ sở học thuật ở Việt Nam lại thiếu những mối liên hệ quốc tế có ý nghĩa. Trên thực tế, các học giả trẻ được đào tạo ở nước ngoài thường xuyên lấy lý do để tránh làm việc trong các cơ sở học thuật ở Việt Nam là họ lo sợ không thể gắn bó với lĩnh vực của mình. Như GS. Hoàng Tụy miêu tả, giới học thuật Việt Nam rất hướng nội và không đánh giá bản thân theo các tiêu chuẩn quốc tế.

    Trách nhiệm giải trình: Các trường đại học Việt Nam không chịu trách nhiệm trước các cổ đông bên ngoài, và đáng trách là trong đó có cả những người tuyển dụng. Trong nội bộ hệ thống công lập, việc rót vốn không liên quan đến công việc hay chất lượng theo bất cứ hình thức đáng kể nào. Tương tự, kinh phí nghiên cứu của Chính phủ cũng không được cấp một cách có cạnh tranh mà chủ yếu được coi là một hình thức bổ sung lương. Vì có quá nhiều người thèm muốn những cánh cửa hẹp vào các trường đại học – chỉ 1/10 người Việt Nam ở độ tuổi học đại học được tuyển sinh vào các trường sau phổ thông – nên các trường đại học Việt Nam không phải chịu áp lực đổi mới nào. Họ có một thị trường bị giam cầm, vì du học chỉ là sự lựa chọn của một thiểu số rất nhỏ.

    Tự do học thuật: Ngay cả khi so sánh với Trung Quốc, các trường đại học ở Việt Nam cũng thiếu động lực tri thức ở một mức độ đáng kể. Ngay cả khi các trường đại học đang dần được phép nới lỏng hơn, vẫn có một mạng lưới các kiểm soát và kiềm chế chính thức và không chính thức để đảm bảo rằng các trường đại học vẫn tiếp tục suy tàn về tri thức trong khi các cuộc tranh luận trong xã hội ngày càng sôi nổi hơn.

    Có một số ẩn ý trong luận điểm trên. Trước hết, rào cản chính đối với việc cho ra những kết quả cải thiện hơn trong giáo dục ĐH – CĐ lại không phải là chuyện tài chính. Trên thực tế, tính theo tỉ lệ trong GDP, Việt Nam chi nhiều cho giáo dục hơn nhiều nước khác trong khu vực. Con số này còn chưa tính đến số tiền lớn mà chính các gia đình Việt Nam đầu tư vào giáo dục cho con cái họ, ở nhà và ở nước ngoài. Nhưng tiêu tiền như thế nào lại là chuyện khác.

    Thứ hai, đầu tư vào du học vẫn chưa đủ để cải thiện hệ thống. Nếu môi trường chuyên môn không được đại tu, sẽ không có nhiều người Việt Nam được đào tạo ở nước ngoài muốn quay về làm công tác giảng dạy.

    * Phần 2: Đối phó

    • Đại An dịch

    ———-

    1. Để có sự phân tích hệ thống và so sánh về những thách thức chính sách đối với Việt Nam, xem “Choosing Success: The Development of East and Southeast Asia and Lessons for Việt Nam”, tại: http://www.innovations.harvard.edu/showdoc.html?id=98251.

    2. Hệ thống đại học Việt Nam bị ảnh hưởng nặng nề từ hệ thống học thuật của Liên Xô, trong đó các trường đại học về cơ bản là các cơ sở giảng dạy, còn nghiên cứu là việc của các viện nghiên cứu. Chính phủ Việt Nam đang nỗ lực đẩy mạnh hoạt động nghiên cứu tại các trường đại học nhưng chưa thành công, nguyên nhân có nêu dưới đây. Theo Bảng 1, các viện nghiên cứu của Việt Nam cũng không hoạt động tốt lắm.

    3. Phân tích của chúng tôi về những thất bại trong quản lý của Việt Nam chịu ảnh hưởng từ những tìm hiểu của Task Force về giáo dục ĐH – CĐ, do WB và UNESCO tập hợp, do GS. Henry Rosovsky của ĐH Harvard và GS. Mamphela Ramphele của ĐH Cape Town làm đồng chủ tịch. Trong báo cáo cuối cùng của mình, Peril and Promise: The Challenges of Higher Education in Developing Countries, Task Force kết luận rằng quản lý là rào cản cơ bản phổ biến đối với việc đạt được những kết quả tốt. (Có tại http://www.tfhe.net). GS. Rosovsky là cố vấn của Viện Ash trong các hoạt động liên quan đến cải cách thể chế ở Việt Nam.

    4. Cần phải nhấn mạnh rằng một trong những thành tố của hệ thống đại học giúp nó không bị tham nhũng và chủ nghĩa thân hữu làm cho què quặt là các kỳ thi tuyển sinh đại học. Chính phủ phải huy động rất nhiều nguồn lực đáng kể để đảm bảo quá trình thi cử không có gian lận. Kết quả là, những sinh viên được nhận vào học là những sinh viên tài năng và nhiều người có thể thành công trong việc bổ sung cho các giáo trình cũ kỹ bằng cách tự học.

    Chuyên Cơ

    // June 25th, 2009 // 1 Comment » // Chính trị, xã hội

    nguồn: blogOSIN

    Vào lúc 9 giờ 45 sáng 24-3, trên đường lăn vào nhà ga Nội Bài, chiếc máy bay Airbus của hãng hàng không Thái dừng lại trước cửa nhà khách A cho một đoàn khách VIP bước xuống. Lúc này, nhiều hành khách Việt Nam ngồi ở khoang business class trên chuyến bay mang số hiệu TG 682, mới biết, vị khách ngồi ở ghế 1A chính là Tân Thủ tướng Thái Lan Samak Sundaravej. Việt Nam là một trong những quốc gia đầu tiên được ông Samak tới thăm kể từ khi ông trở thành Thủ tướng.

    Ông Samak không phải là vị nguyên thủ đầu tiên đến Việt Nam bằng máy bay khách. Năm ngoái Thủ tướng Singapore đã tới Việt Nam trên một chuyến bay thường của hãng Singapore Airlines và trở về trên một chuyến bay khác của hãng hàng không giá rẻ, Tiger Airways. Thủ tướng Hàn Quốc và phần lớn các vị nguyên thủ khác cũng đã công du Việt Nam bằng các phương tiện phổ thông. Hiện nay, trên Thế giới, chỉ còn một số rất ít các quốc gia áp dụng chế độ chuyên cơ cho các nguyên thủ như: Mỹ, Nga, Trung Quốc, Nhật Bản… Chính phủ Anh, tuy vẫn chưa “thanh lý” chiếc Boeing 747 “sắm” từ 40 năm trước, nhưng, từ thời ông Tony Blair, các nguyên thủ của quốc gia giàu có vào hàng nhất Thế giới này đã không còn mấy khi đi lại bằng chuyên cơ nữa. Ở Pháp, chế độ chuyên cơ được chính thức bãi bỏ kể từ khi Tổng thống Jacques Chirac lên nắm quyền.

    Đương thời, Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh đã từng mua vé như những hành hành khách bình thường, cho mình và đoàn tùy tùng, thay vì dùng chuyên cơ như thông lệ. Ông nói: “Nước nghèo, dân nghèo, lãnh đạo phải tiết kiệm”. Tuy nhiên, ngay chính Tổng bí thư Nguyễn Văn Linh và những người kế nhiệm, đã không đủ can đảm để từ chối những chuyến chuyên cơ oai vệ. Không chỉ nằm trong nhóm rất ít quốc gia còn áp dụng chế độ chuyên cơ cho nguyên thủ, Việt Nam còn là nước áp dụng chế độ xa xỉ này cho những 4 chức danh: Tổng Bí thư chuyên cơ; Chủ Tịch Nước chuyên cơ; Thủ tướng chuyên cơ và Chủ tịch Quốc hội cũng chuyên cơ luôn!

    Hầu hết đội tàu bay của hãng hàng không quốc gia Việt Nam hiện nay là máy bay thuê hoặc mua bằng nguồn vốn vay ngân hàng nước ngoài, do Chính phủ bảo lãnh. Giá thuê một chiếc Boeing 777, loại vẫn thường sử dụng bay chuyên cơ, không dưới 1 triệu USD/tháng. Không chỉ tốn kém khi bay, cứ mỗi ngày nằm “đợi xếp” ở các sân bay, những chiếc chuyên cơ này vẫn phải trả phí “giờ chết” khoảng 30 nghìn USD/ngày, chưa kể các chi phí sân đậu, cất, hạ cánh…, chi phí cho tiếp viên, tổ lái. Cứ mỗi chuyến bay phục vụ “công du” như thế ngốn của ngân sách không dưới 400 nghìn, có chuyến tốn hơn cả triệu đô la Mỹ. Năm 2000, khi mà khoảng hơn 40% dân số Việt Nam vẫn sống dưới mức 1 USD/ngày, các nguyên thủ của nhiều quốc gia giàu có, đến New York dự họp Đại Hội Đồng Liên hợp Quốc, đã phải “kính nể” chứng kiến chiếc chuyên cơ chở Chủ tịch Trần Đức Lương đậu nhiều ngày trên sân bay JFK. Chủ tịch Nguyễn Minh Triết, người kế nhiệm ông Lương, có những chuyến công du, đã định trưng dụng tới 2 máy bay loại mới.

    Trong thời gian điều máy bay theo hầu nguyên thủ, Việtnam Airlines thường phải “thuê nóng” một máy bay khác để thay thế. Giá thuê rất cao, tuy nhiên, không phải lúc nào cũng có thể “thuê nóng” được máy bay, thế là, Viêtnam Airlines đành phải hủy hay giảm chuyến, dẫn đến tình trạng máy bay bị “đì- lây” liên tục. Hành khách, không biết lỗi này do bởi “chuyên cơ”, mạt sát Hàng không cả trên báo chí.

    Các nhà lãnh đạo của ta khi đi công tác trong nước, tiết kiệm hơn, chỉ dùng “chuyên khoang” thay cho chuyên cơ. Tuy nhiên, nhà chức trách hàng không ở các sân bay, để… chủ yếu, làm vừa lòng “các anh”, đã áp dụng “chế độ chuyên cơ” cho những chuyến bay có “khoang chuyên” đó. Theo quy chế, sân bay sẽ bị “đóng cửa” khoảng 30 phút chờ máy bay bay theo “chế độ chuyên cơ” cất hay hạ cánh. Có ít nhất 10 chuyến bay phải nằm đợi dưới sân hoặc lượn trên trời cho một chuyến “chuyên cơ” như thế. Chi phí cho mỗi giờ bay chờ như vậy tốn khoảng 10.000 USD/máy bay. Hiện nay, Việt Nam là nước duy nhất áp dụng quy định tạm “đóng cửa sân bay cho chuyên cơ”. Thật xấu hổ khi bay vào lãnh thổ một nước nghèo như Việt Nam, mà lại nghe phi hành đoàn xướng lên: “Vì có hoạt động chuyên cơ, máy bay phải lượn chờ trước khi hạ cánh”.

    An toàn cho các vị nguyên thủ cũng cần thiết. Tuy nhiên, trong hàng không, an toàn là một tiêu chuẩn phải tuân thủ tuyệt đối, bất kể hành khách là thường dân hay chính trị gia. Không một chuyến bay nào được phép cất cánh nếu có bất cứ một nghi vấn nhỏ nào về vấn đề an toàn. Chính vì thế mà trừ những quốc gia lắm tiền nhiều của hoặc có vấn đề về khủng bố, an ninh, hầu hết các nguyên thủ, đều di chuyển bằng máy bay thương mại. Khi phải mua vé, thay vì trưng dụng hẳn một chiếc Boeing, các vị nguyên thủ, cũng sẽ không kéo theo quá nhiều “bầu đoàn thê tử”.

    Trên “phương diện quốc gia”, trong những tình huống cần thiết, các vị nguyên thủ hoàn toàn có thể sử dụng một chuyến bay riêng. Tuy nhiên, trong điều kiện phát triển của ngành hàng không như hiện nay, xài “chuyên cơ” chỉ có ý nghĩa lấy le với thiên hạ. Có thể lãnh đạo ở các quốc gia khác không quan trọng như ta. Nhưng, không phải tự nhiên mà ở những nước có GDP/người lên đến 20.000- 30.000 USD, các vị nguyên thủ vẫn không dùng chuyên cơ. Uy tín của các chính trị gia, không hơn thua ở chỗ sử dụng máy bay nhỏ hay to, mà ở chỗ, các vị ấy có biết trân trọng tiền của dân đóng thuế.